28/07/2010 09:26
Ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí: Biện pháp thiết thực giảm phiền hà cho người bệnh

Chăm sóc cho bệnh nhân tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí

 

Ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí (tỉnh Quảng Ninh) ngoài việc giúp Bệnh viện quản lí được bệnh nhân, tránh thất thoát trong viện phí... còn  giúp Bệnh viện nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

 

Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa loại I trực thuộc Bộ Y tế, có nhiệm vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân vùng Đông Bắc Việt Nam (13 tỉnh với dân số 11 triệu người). Bệnh viện có quy mô hơn 700 giường bệnh, 7 phòng chức năng, 20 khoa lâm sàng, 9 khoa cận lâm sàng, với biên chế 633  viên chức (trong đó có 7 tiến sỹ, 10 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 47 bác sỹ chuyên khoa cấp I, 14 thạc sỹ). Mỗi năm, Bệnh viện khám chữa bệnh cho 150.000 đến 170.000 lượt người, điều trị nội trú 35.000 lượt bệnh nhân, phẫu thuật 8.500 đến 9.000 ca (trong đó 1.300 ca áp dụng kỹ thuật công nghệ cao), cấp cứu 15.000 ca bệnh nặng hiểm nghèo, sử dụng 750 lít máu trong điều trị. Công xuất sử dụng giường bệnh đạt từ 110 đến 117%.

 

Nhận thức việc làm chủ công nghệ thông tin và ứng dụng thành công công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện sẽ đem lại nhiều lợi ích, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí đã triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong Bệnh viện từ năm 1992. Tuy nhiên, lúc đó Bệnh viện chỉ mới triển khai quản lý danh sách người bệnh ra viện bằng máy tính và lưu trữ bệnh án theo phương pháp “1 người bệnh-1 hồ sơ-1 số”. Đến năm 2004, mạng máy tính của Bệnh viện chính thức hoạt động. Từ chỗ triển khai và ứng dụng phần mềm mới chỉ bó hẹp trong quản lý người bệnh nội trú, quản lý người bệnh khám ngoại trú, quản lý cấp phát thuốc và viện phí, đến nay Bệnh viện đã tiến hành triển khai một cách đồng bộ: quản lý tiếp đón, cấp mã số người bệnh; quản lý người bệnh khám ngoại trú; quản lý người bệnh điều trị nội trú; quản lý viện phí nội, ngoại trú (kể cả bảo hiểm y tế); quản lý kê đơn thuốc ngoại trú; quản lý dược: kê đơn cấp thuốc nội trú, quản lý kho dược (xuất, nhập, tồn), quản lý thuốc thừa trả lại dược; quản lý kết quả cận lâm sàng; quản lý báo cáo thống kê; báo cáo thu chi viện phí và bảo hiểm y tế.

 

Theo đó, các dữ liệu thông tin về bệnh nhân chỉ phải nhập một lần và được sử dụng theo một chuỗi dây chuyền từ đón tiếp, khám bệnh, thanh toán viện phí... 100% bệnh nhân được quản lý có mã số riêng giúp cho việc tra cứu các kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh từ những lần khám trước nhanh chóng trong thời gian ngắn thay cho việc phải chờ đợi các thủ tục hành chính hàng giờ để rút các hồ sơ bệnh án như trước; thời gian chờ khám, mua thuốc lẫn làm thủ tục xuất viện đều được rút ngắn. Việc làm giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính còn tạo điều kiện cho các thầy thuốc có thêm thời gian chăm sóc và tiếp xúc bệnh nhân. Khi Ban giám đốc yêu cầu phải báo cáo viện phí thu được trong ngày, tháng, quý (tổng tạm ứng, tổng hoàn ứng, tổng thu các dịch vụ) thì chỉ cần vài thao tác là báo cáo chi tiết của các hạng mục trong ngày, tháng, quý được liệt kê đầy đủ. Không những thế, việc ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp phòng chức năng kiểm tra được các thất thu về tài chính, làm giảm tỷ lệ thất thu trong toàn Bệnh viện…

 

Đặc biệt, việc kê đơn thuốc trước đây nhiều người kêu ca về chữ bác sĩ xấu, khó đọc nay nhờ áp dụng mô hình quản lý bằng công nghệ thông tin mà đơn thuốc được in trên giấy dễ đọc, lãnh đạo bệnh viện lại dễ dàng quản lý việc kê đơn thuốc nhằm giảm tình trạng các đơn thuốc chưa hợp lý đến tay người bệnh. Cách thức kê đơn trên máy tính tại buồng khám bệnh của Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí được tiến hành như sau: mỗi bác sỹ được cấp User/mật khẩu; lấy tên người bệnh trong danh sách chờ khám; ghi bổ sung các thông tin cần thiết có liên quan (chẩn đoán bệnh, mã bệnh…); chọn tên thuốc trong danh mục thuốc có sẵn (danh mục thuốc chỉ hiện tên thuốc mà nhà thuốc bệnh viện hiện đang có); ghi chỉ đình liều lượng, đánh dấu đường dùng, thời gian dùng, hướng dẫn sử dụng… theo quy định chuyên môn; ra lệnh in đơn thuốc. Đối với người bệnh bảo hiểm y tế: đơn thuốc và bản kê chi phí in tại quầy đón tiếp; máy tính tự động tính tiền đơn thuốc và số tiền người bệnh phải nộp (5% hoặc 20% nếu có); điều dưỡng và kế toán bảo hiểm y tế kiểm tra đơn thuốc, chứng từ thanh toán, thu tiền 5% hoặc 20% (nếu có), đóng dấu bảo hiểm y tế vào đơn thuốc, hướng dẫn người bệnh đến lĩnh thuốc tại quầy thuốc. Đối với người bệnh thuộc diện đóng viện phí: đơn thuốc được in tại nhà thuốc bệnh viện; máy tính tự động tính tiền đơn thuốc và số tiền người bệnh phải nộp, in biên lai tính tiền (theo thỏa thuận của người bệnh); nhân viên quầy dược được đóng dấu vào đơn thuốc, thu tiền và cấp thuốc cho người bệnh…

 

Theo lãnh đạo Bệnh viện, với cách thức này, đơn thuốc kê rõ ràng, dễ dọc; mẫu đơn thuốc được thiết kế theo đúng mẫu do Bộ Y tế ban hành; thời gian thực hiện kê đơn nhanh do máy tự động ghi tên thuốc và hàm lượng, kể cả một số cụm từ thông dụng về hướng dẫn sử dụng đã được cài đặt sẵn; bác sỹ chỉ kê được các thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu của Bệnh viện; tên thuốc được ghi theo tên hoạt chất hoặc tên một số biệt dược được phép chỉ định; đơn thuốc được lưu trong máy tính, thuận tiện cho việc xem lại đơn cũ (kiểm tra phát hiện những đơn thuốc kê sai quy định, đơn có giá trị lớn, bất thường…). Các khoa dự trù và cấp phát thuốc qua mạng do đó người bệnh được công khai thuốc hàng ngày qua các phiếu in trên mạng có đầy đủ thông tin về tên thuốc, số lượng, cách dùng… Có thể nói, việc ứng dụng thành công công nghệ thông tin trong kê đơn thuốc tại Bệnh viện, đảm bảo luôn đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng thuốc của người bệnh cùng với mục tiêu sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và hợp lý.

 

Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong bệnh viện nói chung cũng như kê đơn thuốc nói riêng tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí cũng đang gặp nhiều khó khăn. Mạng máy tính của Bệnh viện có 1 máy chủ được trang bị từ năm 2003 nay đã lạc hậu, tốc độ chậm do hay bị nghẽn mạch; phần mềm đã có nhiều nội dung không phù hợp với nhu cầu mới ngày càng phát triển; nhân lực công nghệ thông tin thiếu, nhất là kỹ sư công nghệ thông tin. Thực hiện kê đơn thuốc trên máy tính có thể nhầm lẫn do người sử dụng chưa thành thạo (lỗi do đánh máy); điều dưỡng có thể lợi dụng chữ ký bác sỹ để kê đơn (nếu bác sỹ không quản lý chặt chẽ mật khẩu)…  Nhưng vượt lên trên hết những khó khăn đó, lãnh đạo Bệnh viện khẳng định, mục tiêu là tận dụng hết những tiện ích mà hệ thống tin học mang lại để phục tốt nhất cho công tác quản lý và chăm sóc sức khoẻ người bệnh.

 

Phạm Duy

Các bài đã đăng